Cơ sở không áp dụng Tội tham ô tài sản
Bộ luật Hình sự có quy định về hành vi tham ô tài sản áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Tuy nhiên, trường hợp này không cấu thành tội tham ô vì lý do pháp lý sau:
Tư cách pháp lý của hộ kinh doanh: Theo quy định đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh do cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình thành lập và tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản.
Không phải là doanh nghiệp: Hộ kinh doanh không có tư cách doanh nghiệp hay tổ chức theo Luật Doanh nghiệp. Do đó, người làm việc tại hộ kinh doanh không thuộc đối tượng chủ thể là "người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước" để xem xét hành vi tham ô.
Cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hành vi của nhân viên đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự):
Phương thức thực hiện: Nhân viên nhận tài sản (tiền bán điện thoại) một cách hợp pháp thông qua công việc được chủ cửa hàng giao kết, quản lý, nhưng sau đó phát sinh mục đích bất hợp pháp và cố tình không nộp lại nhằm chiếm đoạt.
Giá trị tài sản chiếm đoạt: Số tiền 10 triệu đồng đã vượt mức định lượng tối thiểu (từ 4.000.000 đồng trở lên) để bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
“Con số có thể khô khan, nhưng niềm tin được xây dựng từ những con số ấy là thứ cảm xúc chân thực nhất.” Đó là kim chỉ nam mà chị Huỳnh Thị Tòng – người quản lý bộ phận kế toán tại Luật Nguyễn – đã bền bỉ theo đuổi suốt hơn một phần tư thế kỷ. Từ vùng đất Quảng Ngãi nắng gió đến "trái tim" của...