Thành viên rút khỏi tổ hợp tác được trả lại phần đóng góp

Thứ hai - 03/08/2026 02:39
Nghị định 294/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 23/7/2026 đã bổ sung nhiều quy định đáng chú ý về quyền và nghĩa vụ của thành viên tổ hợp tác. Đáng quan tâm, thành viên khi rút khỏi tổ hợp tác có thể được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ phần đóng góp theo hợp đồng hợp tác và quy định pháp luật. Bên cạnh đó, trách nhiệm đối với các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính và quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cũng được quy định rõ hơn.
Thành viên rút khỏi tổ hợp tác được trả lại phần đóng góp

Thành viên rút khỏi tổ hợp tác được trả lại phần đóng góp

Ngày 23/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 294/2026/NĐ-CP về tổ hợp tác, trong đó có nhiều nội dung mới liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của thành viên.

Theo Điều 12 Nghị định 294/2026/NĐ-CP, khi thành viên rút khỏi tổ hợp tác, phần đóng góp của thành viên có thể được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ. Việc hoàn trả được thực hiện căn cứ vào nội dung hợp đồng hợp tác và các quy định pháp luật có liên quan.

Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý so với quy định trước đây tại Nghị định 77/2019/NĐ-CP, khi quyền được hoàn trả phần đóng góp khi rút khỏi tổ hợp tác chưa được quy định cụ thể như hiện nay.

Tuy nhiên, việc rút khỏi tổ hợp tác và nhận lại phần đóng góp không được hiểu là thành viên đương nhiên được hoàn trả toàn bộ trong mọi trường hợp. Mức hoàn trả và phương thức thực hiện còn phụ thuộc vào hợp đồng hợp tác và các nghĩa vụ mà thành viên phải thực hiện.

Những quyền mới của thành viên tổ hợp tác

Bên cạnh quyền liên quan đến phần đóng góp, Nghị định 294/2026/NĐ-CP còn quy định thành viên tổ hợp tác có các quyền sau:

  • Được hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ hoạt động của tổ hợp tác;
  • Tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến việc thực hiện hợp đồng hợp tác;
  • Tham gia quản lý, giám sát hoạt động của tổ hợp tác;
  • Được rút khỏi tổ hợp tác khi có lý do chính đáng và được trên 50% tổng số thành viên đồng ý hoặc thực hiện theo quy định trong hợp đồng hợp tác;
  • Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định pháp luật;
  • Thực hiện các quyền khác được quy định trong hợp đồng hợp tác và pháp luật có liên quan.

Trong đó, quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện là nội dung được bổ sung trong quy định mới. Việc ghi nhận quyền này giúp thành viên có thêm cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi phát sinh tranh chấp hoặc có hành vi vi phạm.

Thành viên tổ hợp tác phải thực hiện những nghĩa vụ nào?

Cùng với việc mở rộng quyền, Nghị định 294/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể hơn về trách nhiệm của thành viên.

Theo đó, thành viên tổ hợp tác có các nghĩa vụ chủ yếu gồm:

  • Tham gia quyết định các vấn đề liên quan đến việc thực hiện hợp đồng hợp tác và giám sát hoạt động của tổ hợp tác;
  • Chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động của tổ hợp tác theo hợp đồng hợp tác và quy định pháp luật;
  • Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho tổ hợp tác và các thành viên khác theo quy định;
  • Tuân thủ mục đích hoạt động và các nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác;
  • Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo cam kết;
  • Góp đầy đủ, đúng thời hạn tài sản hoặc công sức đã cam kết;
  • Thực hiện các nghĩa vụ khác theo hợp đồng hợp tác và pháp luật có liên quan.

Đáng chú ý, trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của tổ hợp tác là nội dung mới được bổ sung so với quy định trước đây tại Nghị định 77/2019/NĐ-CP.

Bên cạnh đó, trách nhiệm bồi thường cũng được quy định cụ thể hơn. Thành viên không chỉ phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho tổ hợp tác mà còn phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra cho các thành viên khác theo quy định.

Rút khỏi tổ hợp tác cần lưu ý những gì?

Việc được pháp luật ghi nhận quyền nhận lại một phần hoặc toàn bộ phần đóng góp không có nghĩa thành viên có thể bỏ qua các nghĩa vụ còn tồn tại.

Trước khi rút khỏi tổ hợp tác, thành viên cần kiểm tra kỹ hợp đồng hợp tác để xác định:

  • Điều kiện và thủ tục rút khỏi tổ hợp tác;
  • Phần đóng góp được hoàn trả;
  • Cách thức và thời điểm hoàn trả;
  • Các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính còn liên quan;
  • Trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh.

Đặc biệt, trường hợp thành viên muốn rút khỏi tổ hợp tác vì lý do chính đáng cần lưu ý điều kiện về sự đồng ý của trên 50% tổng số thành viên, trừ trường hợp hợp đồng hợp tác có quy định khác.

Do đó, việc giải quyết quyền lợi khi rút khỏi tổ hợp tác cần được thực hiện đồng thời với việc xác định và hoàn thành các nghĩa vụ liên quan.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TRI ÂN LUẬT SƯ HOÀNG TAM ĐA – NGƯỜI THẦY ĐẶT NỀN MÓNG CHO NHỮNG GIÁ TRỊ VÀNG

Tri ân người dẫn đầu Trong không khí ấm cúng của buổi tiệc tất niên ngày 07/02 vừa qua, Luật Nguyễn đã dành một khoảng lặng trang trọng nhất để thực hiện nghi thức tri ân Luật sư Hoàng Tam Đa – Thành viên Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Đây không chỉ là một nghi thức hành...

DỊCH VỤ LUẬT NGUYỄN
Thăm dò ý kiến

Bạn gặp trở ngại gì trong quá trình vận hành doanh nghiệp?

Thống kê
  • Đang truy cập902
  • Thành viên online1
  • Khách viếng thăm901
  • Hôm nay129,214
  • Tháng hiện tại497,212
  • Tổng lượt truy cập24,272,983
BANNER DOC
BANNER DOC
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Zalo