Việc lập hoặc sử dụng hồ sơ không đúng sự thật để hưởng trợ cấp thất nghiệp có thể xâm phạm trực tiếp đến tính chính xác của dữ liệu bảo hiểm và làm phát sinh khoản chi trả không đúng quy định.
Đáng chú ý, Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 của Chính phủ đã dành Điều 47 để quy định về vi phạm trong việc lập hồ sơ và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, Nghị định này có hiệu lực từ ngày 10/9/2026, không phải ngay từ thời điểm ban hành.
Theo khoản 2 Điều 47 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có hành vi làm giả hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với mỗi hồ sơ vi phạm, nhưng tổng mức phạt tối đa là 75 triệu đồng.
Quy định này cũng áp dụng đối với hành vi cố ý làm sai lệch thông tin, tài liệu trong hồ sơ hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự.
Như vậy, cần phân biệt rõ hai yếu tố:
Bên cạnh hình thức phạt tiền, người vi phạm còn có thể phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Nghị định quy định việc buộc nộp lại cho cơ quan bảo hiểm xã hội các khoản tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp hoặc các khoản hỗ trợ đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm.
Không phải mọi trường hợp làm sai hồ sơ đều áp dụng cùng một mức phạt. Nghị định 283/2026/NĐ-CP phân biệt hành vi của người lao động với hành vi của người sử dụng lao động.
Theo khoản 1 Điều 47, người lao động kê khai không trung thực hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật nội dung liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng.
Quy định này cho thấy cần xác định chính xác ai là chủ thể thực hiện hành vi, nội dung gian dối là gì và mức độ vi phạm ra sao trước khi xác định mức xử phạt.
Do đó, không nên mặc định rằng cứ có hồ sơ sai lệch thì người lao động sẽ bị áp dụng mức phạt từ 10 - 20 triệu đồng. Mức phạt này tại khoản 2 Điều 47 được đặt ra đối với người sử dụng lao động thực hiện hành vi làm giả hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ theo quy định.
Xử phạt hành chính chỉ là một khả năng khi hành vi chưa đạt mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi gian lận đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, người thực hiện có thể bị xử lý theo Điều 214 Bộ luật Hình sự về Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Điều luật này điều chỉnh hai nhóm hành vi đáng chú ý:
Ở khung cơ bản, trường hợp chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng, hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, người thực hiện có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Nếu có các tình tiết định khung nghiêm trọng hơn như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, số tiền chiếm đoạt hoặc thiệt hại lớn hơn, mức hình phạt có thể tăng lên đáng kể. Theo Điều 214, một số trường hợp có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.
Điểm quan trọng là không phải cứ làm giả giấy tờ là đương nhiên bị phạt tù. Cơ quan có thẩm quyền còn phải xem xét hành vi cụ thể, mục đích, hậu quả, số tiền chiếm đoạt hoặc mức thiệt hại và các tình tiết khác để xác định có đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.
Hai hành vi này có thể có bản chất khác nhau và dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau.
Làm giả hồ sơ thường được hiểu là việc tạo ra hoặc sử dụng tài liệu giả nhằm làm cho cơ quan có thẩm quyền tin rằng người đề nghị hưởng chế độ đáp ứng điều kiện trong khi thực tế không phải như vậy.
Trong khi đó, kê khai sai thông tin có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nếu người lao động chỉ kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa thông tin nhưng hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 47 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.
Việc đánh giá vì vậy không chỉ dựa vào việc hồ sơ có thông tin sai mà còn phải xem xét mức độ gian dối, mục đích của hành vi và hậu quả thực tế.
Để hạn chế nguy cơ hồ sơ bị trả lại hoặc phải bổ sung, người lao động cần chuẩn bị đúng thành phần hồ sơ theo quy định hiện hành.
Nghị định 374/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp và có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Về cơ bản, hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm các giấy tờ chứng minh việc chấm dứt quan hệ lao động và quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.
Trong đó, người lao động cần đặc biệt lưu ý các giấy tờ chứng minh việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Tùy trường hợp, đây có thể là hợp đồng hết hạn, quyết định thôi việc, quyết định sa thải, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hoặc giấy tờ khác có giá trị xác nhận việc chấm dứt quan hệ lao động.
Người lao động cũng cần chuẩn bị giấy đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp và các giấy tờ liên quan đến quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành.
Việc sử dụng giấy tờ hợp pháp, thông tin chính xác ngay từ đầu không chỉ giúp quá trình giải quyết hồ sơ thuận lợi hơn mà còn hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý nếu cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi gian dối.
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp không được xác định bằng một khoản tiền cố định cho tất cả người lao động mà phụ thuộc vào tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp và thời gian được hưởng.
Theo quy định về bảo hiểm thất nghiệp hiện hành, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng về cơ bản được xác định dựa trên 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, đồng thời phải tuân thủ mức hưởng tối đa theo quy định pháp luật.
Cách tính này nhằm bảo đảm khoản trợ cấp có mối liên hệ với quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động.
Tuy nhiên, khi xác định số tiền thực tế được nhận, cần kiểm tra đầy đủ tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian làm căn cứ tính hưởng, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp và các giới hạn mức hưởng theo quy định áp dụng tại thời điểm giải quyết.
Một trong những hậu quả đáng lưu ý của việc gian lận hồ sơ là người vi phạm không chỉ đối mặt với tiền phạt.
Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, bên cạnh xử phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại khoản tiền bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp hoặc khoản hỗ trợ đã nhận do thực hiện hành vi vi phạm.
Điều này có nghĩa là việc đã nhận được tiền trợ cấp không đồng nghĩa với việc người vi phạm được giữ lại khoản tiền đó nếu cơ quan có thẩm quyền xác định khoản chi trả phát sinh từ hành vi gian lận.
Nếu hành vi đồng thời có dấu hiệu của tội phạm theo Điều 214 Bộ luật Hình sự, người thực hiện còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
“Con số có thể khô khan, nhưng niềm tin được xây dựng từ những con số ấy là thứ cảm xúc chân thực nhất.” Đó là kim chỉ nam mà chị Huỳnh Thị Tòng – người quản lý bộ phận kế toán tại Luật Nguyễn – đã bền bỉ theo đuổi suốt hơn một phần tư thế kỷ. Từ vùng đất Quảng Ngãi nắng gió đến "trái tim" của...
Thừa kế xe ô tô từ người thân: Có phải nộp thuế TNCN 10%
Nghị định 312: Lá chắn an ninh trong phát triển kinh tế
Nghị định 313/2026/NĐ-CP: Tái cơ cấu toàn diện Bộ Y tế
Nhận thừa kế ô tô: Nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân ra sao?
Nghị định 308/2026/NĐ-CP: Đòn bẩy mới nâng tầm chất lượng nhân lực doanh nghiệp
Luật Thuế GTGT 1/1/2026: Bước Ngoặt Cho Hộ Kinh Doanh Và Nông Nghiệp
Gold price gap between SJC and global market narrows by VND 6 million
Khởi tố Đoàn Văn Sáng vì tội giết người ở Lạng Sơn
Bảng Tỷ Lệ Thuế Suất Theo Thông Tư 40/2021/TT-BTC
Quỹ Phòng chống thiên tai đối với Doanh nghiệp.Bắt buộc hay Tự nguyện?