Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 11/2026/QH16 đã điều chỉnh quy định về thời hạn kiểm tra sau thông quan.
Theo khoản 2 Điều 79 Luật Hải quan được sửa đổi bởi khoản 25 Điều 1 Luật số 11/2026/QH16, thời gian kiểm tra được xác định cụ thể trong quyết định kiểm tra.
Thời hạn thông thường không vượt quá 20 ngày kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra.
Đối với trường hợp có phạm vi kiểm tra lớn hoặc nội dung cần làm rõ phức tạp, người có thẩm quyền quyết định kiểm tra được gia hạn một lần, tối đa thêm 20 ngày.
Như vậy, nếu thuộc trường hợp được gia hạn, tổng thời gian kiểm tra có thể lên đến 40 ngày.
Điểm cần lưu ý là quy định mới không đồng nghĩa mọi cuộc kiểm tra sau thông quan đều kéo dài 40 ngày.
Thời hạn cơ bản vẫn là không quá 20 ngày. Chỉ khi phạm vi kiểm tra lớn hoặc nội dung phức tạp thì mới có căn cứ để gia hạn.
Việc gia hạn cũng chỉ được thực hiện một lần và thời gian gia hạn không quá 20 ngày.
Cách quy định này nhằm tạo thêm khoảng thời gian cần thiết cho cơ quan hải quan xử lý những cuộc kiểm tra có tính chất phức tạp, đồng thời vẫn đặt ra giới hạn cụ thể để tránh việc kiểm tra kéo dài không xác định.
So với quy định trước đây, thời hạn kiểm tra sau thông quan được điều chỉnh theo hướng dài hơn.
Theo Điều 79 Luật Hải quan 2014, thời gian kiểm tra được xác định trong quyết định kiểm tra nhưng không quá 05 ngày làm việc.
Từ ngày 01/3/2027, thời hạn thông thường được nâng lên tối đa 20 ngày và trong trường hợp đặc biệt có thể kéo dài thêm tối đa 20 ngày.
Sự thay đổi này tạo ra dư địa lớn hơn để cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra đối với những hồ sơ, giao dịch hoặc hoạt động xuất nhập khẩu cần đối chiếu nhiều thông tin.
Đồng thời, doanh nghiệp và người khai hải quan cũng cần chủ động chuẩn bị hồ sơ, chứng từ và dữ liệu liên quan trong suốt quá trình hoạt động để đáp ứng yêu cầu kiểm tra khi phát sinh.
Luật sửa đổi cũng quy định rõ hơn về thẩm quyền thực hiện kiểm tra sau thông quan.
Theo đó:
Việc phân định thẩm quyền theo phạm vi hoạt động giúp xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, đồng thời phù hợp với mô hình tổ chức quản lý hải quan theo khu vực.
Một điểm đáng chú ý khác liên quan đến trường hợp người khai hải quan được kiểm tra nhưng không thuộc địa bàn quản lý được phân công.
Trong tình huống này, Hải quan khu vực phải báo cáo Cục Hải quan để xem xét, phân công đơn vị thực hiện kiểm tra.
Quy định này giúp hạn chế tình trạng lúng túng về thẩm quyền khi đối tượng kiểm tra có hoạt động hoặc hồ sơ liên quan đến nhiều địa bàn.
Qua đó, việc tổ chức kiểm tra vẫn được bảo đảm thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền và theo sự phân công thống nhất.
Bên cạnh kiểm tra sau thông quan đối với từng trường hợp cụ thể, pháp luật mới cũng duy trì cơ chế kiểm tra nhằm đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan.
Hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch kiểm tra sau thông quan hằng năm do Cục trưởng Cục Hải quan ban hành.
Việc xây dựng kế hoạch theo năm giúp cơ quan quản lý chủ động xác định phạm vi, đối tượng và nội dung cần kiểm tra, qua đó tăng cường công tác quản lý rủi ro và đánh giá mức độ tuân thủ của người khai hải quan.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Tiệc Tất Niên Luật Nguyễn 2026: Hành trình tri ân những người dẫn dắt và Vinh danh thế hệ kế thừa "Trong dòng chảy hối hả của những ngày cuối năm, có một khoảng lặng đầy xúc động tại Luật Nguyễn, nơi chúng tôi không chỉ nhìn lại những con số tăng trưởng, mà còn để nghiêng mình tri ân những người...
Tiêu chuẩn phân loại và định hướng cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Cơ chế hỗ trợ và quản lý chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian
Chuẩn hóa quy chế quản lý và khai thác tài sản hạ tầng thủy lợi
Tiêu chuẩn và điều kiện mới đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch
Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn: Biến phế thải khoáng sản thành vật liệu xây dựng xanh