Vấn đề nghĩa vụ tài chính phát sinh từ các khoản chi trả hậu chấm dứt hợp đồng lao động luôn là điểm nóng trong công tác tài chính - kế toán của doanh nghiệp. Đi ngược dòng thời gian, từ giai đoạn áp dụng các chuẩn mực cũ theo Thông tư 111/2013/TT-BTC (với ngưỡng khấu trừ quen thuộc là từ 2 triệu đồng/lần trở lên áp dụng theo biểu thuế 10%), cho đến các hướng dẫn mang tính cục bộ từ một số cơ quan thuế địa phương như Công văn 7889/NBI-QLDN3 của Ninh Bình hay Công văn 146/HUE-QLDN của Thừa Thiên Huế, cách tiếp cận tính thuế đối với khoản tiền công trả chậm cho lao động cũ đã trải qua nhiều bước điều chỉnh.
Đặc biệt, sự xuất hiện của Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Nghị định 252/2026/NĐ-CP (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2026) đã thiết lập một khung trật tự hoàn toàn mới, đồng bộ hóa các quy định quản lý thuế, mang lại góc nhìn pháp lý minh bạch hơn cho cả người lao động và tổ chức chi trả.
Theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, việc chi trả tiền lương, tiền công hoặc các khoản thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động được định hình theo một định mức rõ ràng dựa trên giá trị mỗi lần chi trả:
Mức chi trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên: Tổ chức, cá nhân chi trả bắt buộc phải thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN trên tổng thu nhập trước khi thanh toán cho người lao động, không phân biệt trước đó họ ký hợp đồng dài hạn hay ngắn hạn.
Mức chi trả dưới 05 triệu đồng/lần: Doanh nghiệp không bắt buộc khấu trừ 10% tại nguồn, mà chỉ thực hiện việc này trong trường hợp cá nhân người lao động có yêu cầu cụ thể.
Pháp luật thuế hiện hành tiếp tục duy trì cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người lao động có thu nhập thấp thông qua bản cam kết (theo mẫu hướng dẫn quản lý thuế). Nếu cá nhân ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ các khoản giảm trừ gia cảnh vẫn chưa đến mức phải nộp thuế, họ có quyền lập bản cam kết gửi đơn vị chi trả để tạm thời chưa bị khấu trừ 10%.
Tuy nhiên, người lao động phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của bản cam kết này; mọi hành vi gian lận sẽ bị xử lý nghiêm theo Luật Quản lý thuế.
Bên cạnh các khía cạnh về thuế, việc quản lý nhân sự đòi hỏi doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về hình thức văn bản khi tuyển dụng. Căn cứ theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động bằng văn bản bắt buộc phải được lập thành 02 bản có giá trị pháp lý như nhau, trong đó người lao động giữ 01 bản và người sử dụng lao động giữ 01 bản (trừ trường hợp giao kết hợp đồng dưới 1 tháng bằng lời nói hoặc thông điệp dữ liệu điện tử hợp pháp). Sự tuân thủ này tạo nền tảng vững chắc để giải quyết minh bạch các tranh chấp về tiền lương và nghĩa vụ thuế khi quan hệ lao động chấm dứt.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Trong bất kỳ tổ chức nào, bên cạnh những người trực tiếp "ra trận" tạo nên doanh thu, còn có những "kiến trúc sư thầm lặng" xây dựng nên nền móng vững chắc. Tại Luật Nguyễn, người ta thường nhắc đến những luật sư dày dạn kinh nghiệm, nhưng ít ai biết về Nguyễn Thị Kim Hường – một trong những...