Ngày 12/7/2016, Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn 6592/CT-TTHT để trả lời đề nghị của Liên Đoàn Quần Vợt Thành phố Hồ Chí Minh về chính sách thuế. Nội dung văn bản tập trung vào trường hợp đơn vị kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp và xác định thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu.
Điểm đáng chú ý của hướng dẫn không chỉ nằm ở mức tỷ lệ thuế mà còn ở bản chất của từng khoản tiền mà tổ chức nhận được. Cùng là khoản tiền phát sinh trong quá trình hoạt động nhưng cách xử lý thuế có thể hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào việc tổ chức có cung cấp hàng hóa, dịch vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ tương ứng cho bên chi trả hay không.
Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn đối với các tổ chức, hội, đoàn thể hoặc đơn vị không hoạt động hoàn toàn theo mô hình doanh nghiệp nhưng vẫn phát sinh doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ, tài trợ, lãi tiền gửi và các khoản thu từ thành viên.
Theo quy định được Cục Thuế viện dẫn tại Công văn 6592, đối với phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu, tỷ lệ phần trăm thuế giá trị gia tăng được phân loại theo từng nhóm hoạt động.
Các tỷ lệ được dẫn chiếu trong văn bản gồm:
Như vậy, việc xác định tỷ lệ thuế không thể chỉ căn cứ vào tên gọi của khoản tiền thu được. Trước tiên cần xác định hoạt động thực tế tạo ra doanh thu thuộc nhóm nào.
Đối với trường hợp được nêu trong Công văn 6592, hoạt động tổ chức thi đấu và nhận tài trợ có gắn với việc thực hiện những công việc mang tính dịch vụ, chẳng hạn như quảng bá thương hiệu hoặc sản phẩm. Chính yếu tố này khiến khoản tiền tài trợ được xem xét dưới góc độ doanh thu từ hoạt động dịch vụ.
Đây là điểm có thể rút ra nhiều giá trị thực tiễn từ Công văn 6592.
Trên thực tế, một tổ chức có thể nhận tiền từ doanh nghiệp hoặc cá nhân dưới nhiều hình thức. Không phải mọi khoản được gọi là “tài trợ” đều đương nhiên có cách xử lý thuế giống nhau.
Nếu bên nhận tiền đồng thời phải thực hiện một công việc hoặc cung cấp một dịch vụ cho bên tài trợ, chẳng hạn quảng bá tên tuổi, thương hiệu, sản phẩm hoặc thực hiện quyền lợi truyền thông theo thỏa thuận, thì khoản tiền này có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cung cấp dịch vụ.
Khi đó, bản chất kinh tế của giao dịch quan trọng hơn tên gọi “tiền tài trợ”.
Theo hướng dẫn tại Công văn 6592, trường hợp tổ chức tổ chức thi đấu và nhận tiền tài trợ từ các tổ chức trong nước hoặc nước ngoài nhưng đi kèm điều kiện phải thực hiện dịch vụ quảng bá thương hiệu, sản phẩm thì khoản thu được xác định thuộc hoạt động dịch vụ. Với đơn vị áp dụng phương pháp trực tiếp, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng được xác định là 5%, đồng thời thuế thu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ trên doanh thu cũng là 5%.
Điều này cho thấy doanh nghiệp hoặc tổ chức khi xây dựng hợp đồng tài trợ cần đặc biệt chú ý đến nội dung cam kết giữa hai bên. Việc gọi một khoản tiền là “tài trợ” không tự động quyết định bản chất thuế của khoản tiền đó.
Một nội dung khác được Công văn 6592 đề cập là thu nhập từ tiền lãi ngân hàng.
Theo hướng dẫn được viện dẫn, đối với trường hợp thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng được xếp vào nhóm dịch vụ và áp dụng tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp 5%.
Điểm này đặc biệt đáng lưu ý đối với các tổ chức có nguồn tiền tạm thời chưa sử dụng và gửi tại ngân hàng. Khi theo dõi nghĩa vụ thuế, không nên chỉ tập trung vào doanh thu từ hoạt động chính mà bỏ qua các khoản thu tài chính phát sinh trong kỳ.
Việc hạch toán, theo dõi riêng tiền lãi tiền gửi sẽ giúp đơn vị xác định đầy đủ các khoản thu nhập cần đưa vào hồ sơ khai thuế theo phương pháp áp dụng.
Không phải mọi khoản tiền tổ chức thu từ thành viên đều được xem là doanh thu chịu thuế.
Công văn 6592 xác định lệ phí tham gia Liên Đoàn và hội phí hằng năm thu từ hội viên không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, với điều kiện khoản tiền này được sử dụng để phục vụ hoạt động của Liên Đoàn.
Đây là điểm khác biệt quan trọng so với tiền tài trợ có điều kiện.
Hội phí về bản chất được thu từ thành viên để phục vụ hoạt động chung của tổ chức. Trong khi đó, khoản tài trợ gắn với nghĩa vụ quảng bá thương hiệu hoặc cung cấp một dịch vụ cụ thể lại có thể hình thành quan hệ trao đổi giữa bên chi tiền và bên nhận tiền.
Do đó, khi phân loại các khoản thu, tổ chức cần xem xét đồng thời nguồn tiền, mục đích thu, nghĩa vụ của bên nhận và cách sử dụng khoản tiền thay vì chỉ dựa vào tên gọi trên chứng từ.
Từ nội dung Công văn 6592/CT-TTHT, có thể thấy việc xác định nghĩa vụ thuế bắt đầu từ việc nhận diện đúng bản chất giao dịch.
Một khoản tiền được nhận có thể thuộc những trường hợp khác nhau:
Thứ nhất, khoản thu gắn với việc cung cấp dịch vụ. Nếu tổ chức nhận tiền và phải thực hiện quyền lợi, công việc hoặc dịch vụ tương ứng cho bên trả tiền thì cần xem xét đây là doanh thu từ hoạt động dịch vụ.
Thứ hai, khoản thu từ hội viên để phục vụ hoạt động chung. Nếu là hội phí, lệ phí tham gia và đáp ứng điều kiện như hướng dẫn tại văn bản thì khoản thu này không chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ ba, khoản thu từ tiền gửi ngân hàng. Đây là nguồn thu riêng cần được theo dõi và xác định nghĩa vụ thuế theo phương pháp áp dụng.
Cách tiếp cận này giúp hạn chế một sai sót phổ biến: đánh đồng tất cả các khoản tiền nhận được trong kỳ thành một loại doanh thu chịu cùng một cách tính thuế.
Công văn 6592/CT-TTHT được ban hành năm 2016 trên cơ sở các quy định thuế được viện dẫn tại thời điểm đó, trong đó có Thông tư 219/2013/TT-BTC và Thông tư 78/2014/TT-BTC.
Vì vậy, khi sử dụng nội dung công văn để xử lý một giao dịch phát sinh ở thời điểm hiện nay, không nên máy móc áp dụng các tỷ lệ hoặc quy định nêu trong văn bản cũ. Cần kiểm tra thêm hệ thống pháp luật thuế đang có hiệu lực tại thời điểm phát sinh giao dịch.
Tuy nhiên, về mặt phân tích, Công văn 6592 vẫn cung cấp một cách tiếp cận đáng tham khảo: xác định nghĩa vụ thuế dựa trên bản chất hoạt động và quyền, nghĩa vụ thực tế của các bên.
Đặc biệt đối với các hợp đồng tài trợ, việc rà soát nội dung thỏa thuận ngay từ đầu sẽ giúp tổ chức xác định được liệu mình chỉ nhận một khoản hỗ trợ hay thực tế đang cung cấp dịch vụ để đổi lấy khoản tiền đó.
Công văn 6592/CT-TTHT ngày 12/7/2016 của Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các khoản thu phát sinh trong hoạt động của một tổ chức. Khoản tài trợ đi kèm nghĩa vụ quảng bá thương hiệu, sản phẩm được xem xét theo hướng doanh thu dịch vụ và thuộc diện áp dụng tỷ lệ thuế theo phương pháp trực tiếp; thu nhập từ tiền lãi ngân hàng cũng được xác định nghĩa vụ thuế tương ứng. Trong khi đó, hội phí và lệ phí thành viên được thu để phục vụ hoạt động của tổ chức thì không chịu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn của công văn.
Giá trị quan trọng nhất của hướng dẫn là giúp các đơn vị hiểu rằng tên gọi của khoản tiền không phải yếu tố duy nhất quyết định nghĩa vụ thuế. Khi phát sinh khoản thu, cần xem xét đầy đủ bản chất giao dịch, mục đích sử dụng tiền và nghĩa vụ mà tổ chức phải thực hiện cho bên chi trả. Đồng thời, do hệ thống pháp luật thuế đã có nhiều thay đổi sau năm 2016, việc đối chiếu với quy định hiện hành là bước cần thiết trước khi kê khai và thực hiện nghĩa vụ thuế.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Khát vọng của người con xứ Quảng Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Quảng Nam đầy nắng gió và giàu truyền thống hiếu học, Nguyệt Nga mang trong mình cái chất “hay cãi” của người dân xứ Quảng – không phải là sự tranh chấp vô lý, mà là sự bướng bỉnh để bảo vệ lẽ phải và tìm kiếm sự thật. Rời quê...