Ngày 14/8/2026, Cục Thuế ban hành Công văn số 5886/CT-CS về chính sách thuế tài nguyên, gửi Sở Tài chính tỉnh Quảng Ninh để trả lời vướng mắc liên quan đến việc xác định loại tài nguyên và giá tính thuế đối với một số sản phẩm phát sinh trong quá trình khai thác, chế biến.
Vấn đề được đặt ra trong bối cảnh địa phương phát sinh hoạt động thu hồi đất đá lẫn than và bã sàng từ quá trình chế biến đất đá lẫn than, trong khi đây được xác định là những loại tài nguyên mới. Việc xác định chính xác bản chất tài nguyên có ý nghĩa trực tiếp đối với việc lựa chọn giá tính thuế và tính đúng số thuế tài nguyên phải nộp.
Theo Cục Thuế, đối với trường hợp phát sinh vướng mắc về việc xác định loại tài nguyên mới cũng như giá tính thuế tài nguyên của loại tài nguyên này, Sở Tài chính cần phối hợp với các cơ quan liên quan để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
Một nội dung quan trọng được Cục Thuế viện dẫn là quy định tại Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC về giá tính thuế tài nguyên.
Về nguyên tắc, giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Tuy nhiên, mức giá này không được thấp hơn giá tính thuế tài nguyên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Điều này có nghĩa, doanh nghiệp khai thác tài nguyên không đơn thuần lấy giá bán thực tế trong giao dịch để xác định nghĩa vụ thuế. Trường hợp giá bán thực tế thấp hơn mức giá tính thuế do địa phương ban hành thì giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định sẽ được sử dụng làm căn cứ tính thuế.
Cơ chế này nhằm hạn chế tình trạng giá tính thuế bị xác định thấp hơn mức giá được cơ quan có thẩm quyền thiết lập, đồng thời tạo cơ sở tương đối thống nhất trong quản lý nguồn thu từ hoạt động khai thác tài nguyên.
Đối với tài nguyên không thể xác định trực tiếp giá bán của một đơn vị tài nguyên khai thác do trong tài nguyên có chứa nhiều chất khác nhau, pháp luật có phương pháp tính riêng.
Theo quy định được Cục Thuế dẫn chiếu, giá tính thuế được xác định dựa trên giá bán đơn vị của từng chất có trong tài nguyên. Việc phân bổ doanh thu được thực hiện căn cứ vào tổng doanh thu bán tài nguyên trong tháng, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, kết hợp với tỷ lệ hàm lượng của từng chất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm định, phê duyệt.
Sản lượng tài nguyên bán ra cũng phải được thể hiện trên chứng từ bán hàng tương ứng với từng chất.
Quy định này đặc biệt đáng lưu ý đối với các doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản có thành phần phức tạp. Nếu một loại tài nguyên đồng thời chứa nhiều thành phần có giá trị khác nhau, việc xác định hàm lượng, sản lượng và doanh thu của từng thành phần sẽ tác động trực tiếp đến căn cứ tính thuế.
Do đó, doanh nghiệp cần có hồ sơ kỹ thuật và chứng từ thương mại đủ cơ sở để chứng minh nguồn gốc, thành phần, sản lượng và giá trị của tài nguyên thực tế khai thác, bán ra.
Công văn 5886/CT-CS đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng và quản lý bảng giá tính thuế tài nguyên.
Theo quy định được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 41/2024/TT-BTC, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng Bảng giá tính thuế tài nguyên áp dụng tại địa phương.
Đáng chú ý, bảng giá không phải là một mức giá cố định bất biến. Cơ quan có thẩm quyền phải thường xuyên rà soát, điều chỉnh để bảo đảm phù hợp với diễn biến của thị trường.
Quy định này cho thấy chính sách thuế tài nguyên có sự gắn kết khá chặt chẽ với đặc điểm thị trường và tình hình khai thác thực tế tại từng địa phương. Khi giá thị trường biến động hoặc xuất hiện loại tài nguyên mới, địa phương cần có cơ chế rà soát để bảo đảm căn cứ tính thuế phù hợp.
Đây là điểm đáng chú ý nhất trong Công văn số 5886/CT-CS.
Đối với trường hợp đất đá lẫn than và bã sàng từ quá trình chế biến đất đá lẫn than được xác định là những loại tài nguyên mới, Cục Thuế không trực tiếp đưa ra một mức giá tính thuế cụ thể.
Thay vào đó, Cục Thuế hướng dẫn rằng khi phát sinh vướng mắc về việc xác định loại tài nguyên mới và giá tính thuế đối với loại tài nguyên này, Sở Tài chính tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp với các cơ quan có liên quan để trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
Cách xử lý này phản ánh nguyên tắc phân định thẩm quyền trong quản lý thuế tài nguyên. Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn về chính sách thuế, trong khi việc xác định, phân loại và xây dựng bảng giá tài nguyên tại địa phương cần được thực hiện trên cơ sở chức năng, thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Từ hướng dẫn của Cục Thuế, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản cần đặc biệt chú trọng việc xác định đúng loại tài nguyên trước khi kê khai nghĩa vụ thuế.
Một số nội dung cần được kiểm tra thường xuyên gồm:
Mặc dù Công văn 5886/CT-CS được ban hành để trả lời một trường hợp cụ thể tại Quảng Ninh, nội dung văn bản vẫn có giá trị tham khảo đáng chú ý đối với các doanh nghiệp khai thác tài nguyên tại những địa phương có hoạt động khoáng sản phức tạp.
Điểm quan trọng nhất không nằm ở việc Công văn đưa ra một mức thuế cụ thể, mà ở việc làm rõ quy trình xử lý khi xuất hiện loại tài nguyên mới chưa có cơ sở xác định giá tính thuế.
Đối với doanh nghiệp, đây là vấn đề có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí, giá thành và nghĩa vụ ngân sách. Nếu xác định sai loại tài nguyên hoặc sử dụng không đúng giá tính thuế, doanh nghiệp có thể phải điều chỉnh hồ sơ khai thuế và phát sinh các nghĩa vụ liên quan.
Vì vậy, thay vì chỉ quan tâm đến mức thuế suất, doanh nghiệp cần chú trọng toàn bộ chuỗi xác định nghĩa vụ thuế, từ phân loại tài nguyên, xác định sản lượng, hàm lượng, giá bán đến đối chiếu với bảng giá tính thuế do địa phương ban hành.
Công văn cũng đề cập trường hợp còn vướng mắc liên quan đến tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Cục Thuế cho biết vấn đề này cần được kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, giải quyết theo đúng chức năng và thẩm quyền.
Điều này có ý nghĩa thực tế bởi doanh nghiệp khai thác khoáng sản có thể đồng thời phải quan tâm đến nhiều nghĩa vụ tài chính khác nhau. Thuế tài nguyên và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là những vấn đề có liên quan đến hoạt động khai thác nhưng không nên đồng nhất về căn cứ và cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Việc xác định đúng từng khoản nghĩa vụ sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế nhầm lẫn khi lập hồ sơ, kê khai và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Công văn số 5886/CT-CS ngày 14/8/2026 của Cục Thuế cho thấy việc quản lý thuế tài nguyên đang được đặt trong yêu cầu phải bám sát thực tế khai thác và biến động của thị trường. Đặc biệt, khi phát sinh những loại tài nguyên mới chưa được xác định rõ trong bảng giá hiện hành, doanh nghiệp không nên tự suy đoán căn cứ tính thuế mà cần dựa trên hướng dẫn và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với các doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, việc thường xuyên cập nhật bảng giá tính thuế của địa phương, hoàn thiện hồ sơ chứng minh nguồn gốc và thành phần tài nguyên, đồng thời chủ động xử lý các trường hợp phát sinh mới sẽ là yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro về thuế.
Công văn 5886/CT-CS được Cục Thuế ban hành ngày 14/8/2026 và là văn bản trả lời vướng mắc về thuế tài nguyên của Sở Tài chính tỉnh Quảng Ninh.
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Trong đội ngũ luật sư kỳ cựu của Luật Nguyễn, có những người đã gắn bó từ thuở mới chập chững vào nghề, mang theo bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ và khát khao cống hiến. Luật sư Nguyễn Thị Hồng Nga là một trong số đó. Từ một cô sinh viên luật thực tập cho đến một luật sư chính thức, chị đã có hơn...